12. Sớ Hoàn Kinh I
(Huệ Nhật Trường Minh)
Nguyên văn:
伏以
慧日長明、遠燭義天之不夜、慈風永扇、香薰覺地之無塵、果滿三衹、恩霑九有。拜疏爲越南國...省...郡...社...寺奉
佛修香諷經...事。今...寺(弟子)...等。維日香焚戒定、花献蔓陀、仰干蓮眼之尊、俯鑒葵情之懇。言念、弟子等生居塵世、幸獲人倫、此辰不種善根、他日遠逃惡果。茲者辰維...月、節屬...天、莊嚴海會、經開...晝之道塲、靉靆檀烟、香滿十方之世界、諷誦...經、加持...呪、頂禮
三身寶相、萬德金容、集此殊勳、祈增福慧。今則謹具完滿疏文、和南拜白。
南無常住三寶...。伏願、
佛德冥扶、神恩默庇、合同善信、增壽數以無窮、當戸親緣、享福基而不盡。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Huệ nhật trường minh, viễn chúc nghĩa thiên chi bất dạ; từ phong vĩnh phiến, hương huân giác địa chi vô trần; quả mãn Tam Kỳ,1 ân triêm Cửu Hữu.2
Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh ... Quận ... Xã ... Tự phụng Phật tu hương phúng kinh … sự. Kim … Tự (đệ tử) đẳng, duy nhật hương phần giới định, hoa hiến Mạn Đà, ngưỡng can Liên Nhãn chi tôn, phủ giám quỳ tình chi khẩn.
Ngôn niệm: Đệ tử đẳng sanh cư trần thế, hạnh hoạch nhân luân; thử thần bất chủng thiện căn, tha nhật viễn đào ác quả. Tư giả thần duy … nguyệt, tiết thuộc … thiên, trang nghiêm hải hội kinh khai ... trú chi đạo tràng, ái đãi đàn yên, hương mãn thập phương chi thế giới, phúng tụng … kinh, gia trì … chú, đảnh lễ Tam Thân bảo tướng, vạn đức kim dung, tập thử thù huân, kỳ tăng phước huệ. Kim tắc cẩn cụ hoàn mãn sớ văn, hòa nam bái bạch:
Nam Mô Thường Trú Tam Bảo, v.v.
Phục nguyện: Phật đức minh phò, thần ân mặc tỉ, hợp đồng thiện tín, tăng thọ số dĩ vô cùng; đương hộ thân duyên, hưởng phước cơ nhi bất tận. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Trời tuệ sáng lâu, xa tỏa rạng ngời khắp vạn cõi; gió từ mãi thổi, hương thơm cảnh giác chẳng bụi trần; quả tròn Ba Kỳ, ơn nhuần Chín Loại.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa … thờ Phật, dâng hương tụng kinh ... Đệ tử … chúng con hôm nay, dâng hương giới định, hoa cúng Mạn Đà, trông vời mắt Thánh chiếu soi, thương chứng phàm tình khẩn thiết.
Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh nơi trần thế, được làm thân người; hôm nay chẳng gieo thiện căn, một mai khó tránh ác quả. Hôm nay gặp tháng …, tiết thuộc trời …, trang nghiêm pháp hội, khai kinh đạo tràng trong … ngày, khói xông nghi ngút, hương tỏa khắp mười phương thế giới, phúng tụng kinh …, gia trì thêm chú …; đảnh lễ Ba Thân tướng báu, muôn đức dung vàng, đem công đức nầy, cầu thêm phước tuệ. Nay tất đầy đủ, hoàn mãn sớ văn, kính thành tâu lạy:
Kính lạy Thường Trú Tam Bảo….
Lại nguyện: Đức Phật ngầm phò, ơn thần lặng trợ; cùng các thiện tín, tăng số thọ mãi không cùng; thân thích cả nhà, hưởng phước đức thêm bất tận. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Tam Kỳ (三衹): hay còn gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp (三阿僧祇劫), Tam Đại A Tăng Kỳ Kiếp (三大阿僧祇劫), Tam Đại Tăng Kỳ (三大僧祇). A Tăng Kỳ Kiếp (s: asaṅkhyeya-kalpa, p: asaṅkheyya-kappa, 阿僧祇劫) có nghĩa là số lượng kiếp (thời gian vĩnh hằng) quá lớn đến nỗi không thể nào đếm được, và gấp lên ba lần như vậy được gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp. Vị Bồ Tát từ khi bắt đầu phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật cần phải trải qua tu hành trong khoảng thời gian Tam A Tăng Kỳ Bách Đại Kiếp (三阿僧祇百大劫, tức ba kỳ và trăm kiếp lớn). Vị Bồ Tát đang tu hành 50 vị, trong A Tăng Kỳ Kiếp đầu tiên, cần phải tu tập 40 vị gồm Thập Tín (十信), Thập Hạnh (十行), Thập Trụ (十住), Thập Hồi Hướng (十回向); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai thì cần tu từ Sơ Địa cho đến Địa Thứ Bảy trong Thập Địa (十地); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ ba thì cần tu từ Địa Thứ Tám cho đến Địa Thứ Mười. Sau khi tu hạnh Ba La Mật trãi qua Ba A Tăng Kỳ Kiếp rồi, trong thời gian trăm đại kiếp, vị Bồ Tát cần phải tu hành thêm nữa để đạt đến 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō No. 366) có giải thích về vị giáo chủ cõi Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) như sau: “Hựu Xá Lợi Phất ! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ Kiếp, cố danh A Di Đà (又舍利弗、彼佛壽命及其人民、無量無邊阿僧祇劫、故名阿彌陀, Lại nữa Xá Lợi Phất ! Thọ mạng và nhân dân của đức Phật kia vô lượng vô biên không thể tính đếm được, nên được gọi là A Di Đà).” Hay như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn: “A Tăng Kỳ Kiếp giả, tức Tam Độc tâm dã, cố ngôn A Tăng Kỳ; Hán danh bất khả số; thử Tam Độc tâm, ư trung hữu Hằng sa ác niệm, ư nhất nhất niệm trung, giai vi nhất thiết, như thị Hằng sa bất khả số dã; cố ngôn Tam Đại A Tăng Kỳ; chơn như chi tánh, ký bị Tam Độc chi sở phú cái; nhược bất siêu bỉ tam đại Hằng sa độc ác chi tâm, vân hà danh vi giải thoát (阿僧祇劫者、卽三毒心也、胡言阿僧祇、漢名不可數、此三毒心、於中有恆沙惡念、於一一念中、皆爲一劫、如是恆沙不可數也、故言三大阿僧祇、眞如之性、旣被三毒之所覆蓋、若不超彼三大恆沙毒惡之心、云何名爲解脫, A Tăng Kỳ Kiếp tức là tâm có Ba Độc; nên gọi là A Tăng Kỳ; Tàu gọi là không thể tính đếm được; tâm có Ba Độc nầy, trong đó có niệm ác nhiều như sông Hằng; trong mỗi một niệm đều có tất cả, như vậy cát sông Hằng không thể nào tính đếm được; nên có tên là Ba A Tăng Kỳ Kiếp Lớn; tánh của chơn như, đã bị Ba Độc che lấp, nếu không vượt qua tâm ác độc lớn như cát sông Hằng, thế nào gọi là giải thoát đây).”
- Cửu Hữu (九有): chỉ cho 9 xứ sở cư trú của chúng hữu tình, hay 9 loại sinh tồn của thế giới hữu tình, còn gọi là Cửu Cư (九居), Cửu Chúng Sanh Cư (九衆生居), Cửu Hữu Tình Cư (九有情居), Cửu Môn (九門), Cửu Địa (九地); có thể chia thành Dục Giới (欲界), Sắc Giới (色界) và Vô Sắc Giới (無色界). Tùy theo tam muội Thiền định sâu hay cạn mà Sắc Giới và Vô Sắc Giới lại chia thành Tứ Thiền Thiên (四禪天, bốn cõi Thiền) và Tứ Vô Sắc Thiên (四無色天, bốn cõi trời vô sắc); như vậy cọng với Dục Giới thành 9 cõi gồm: (1) Dục Giới Ngũ Thú Địa (欲界五趣地, cõi dục có 5 đường): nơi sinh sống lẫn lộn của các hiện hữu Địa Ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và trời (kể cả cõi trời Sáu Dục), nên được gọi là Ngũ Thú Tạp Cư Địa (五趣雜居地, nơi 5 loài sống hỗn tạp lẫn nhau). (2) Ly Sanh Hỷ Lạc Địa (離生喜樂地): cảnh địa sanh khởi niềm vui sướng nhờ xa lìa đường ác của Dục Giới, cõi Sơ Thiền của Sắc Giới thuộc về cảnh địa nầy. (3) Định Sanh Hỷ Lạc Địa (定生喜樂地): cảnh địa sanh khởi niềm hỷ lạc nhờ có định, cõi Thiền thứ 2 của Sắc Giới thuộc cảnh địa nầy. (4) Ly Hỷ Diệu Lạc Địa (離喜妙樂地): cảnh địa có sự an lạc thù thắng nhờ xa lìa niềm vui của cảnh địa trước, cõi Thiền thứ 3 của Sắc Giới thuộc cảnh địa nầy. (5) Xả Niệm Thanh Tịnh Địa (捨念清淨地): cảnh địa có được nhờ xả ly tất cả hỷ lạc của các cảnh địa trước, cho nên tâm đạt được sự an tĩnh, bình đẳng, tự giác và thanh tịnh; cõi Thiền thứ 4 của Sắc Giới thuộc cảnh địa nầy. (6) Không Vô Biên Xứ Địa (空無邊處地): cảnh địa có được nhờ xa lìa tánh vật chất của Sắc Giới và chứng đắc tánh tự tại của hư không không cùng tận; cõi trời thứ nhất của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa nầy. (7) Thức Vô Biên Xứ Địa (識無邊處地): cảnh địa đạt được thức là vô hạn, rộng rãi vô cùng; cõi trời thứ 2 của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa nầy. (8) Vô Sở Hữu Xứ Địa (無所有處地): cảnh địa xa lìa tính động của 2 địa trước, nhập vào tưởng vắng lặng gọi là “không có một vật”; cõi trời thứ 3 của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa nầy. (9) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa (非想非非想處地): cảnh địa xa lìa cả có tưởng cũng như không có tưởng, không thiên về có và không, đạt đến trạng thái an tĩnh, bình đẳng; cõi trời thứ 4 của Vô Sắc Giới thuộc về cảnh địa nầy. Trong Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) có câu: “Tứ Sanh Cửu Hữu, đồng đăng Hoa Tạng huyền môn, Bát Nạn Tam Đồ, cọng nhập Tỳ Lô tánh hải (四生九有、同登華藏玄門、八難三途、共入毘盧性海, Bốn Loài Chín Cõi, cùng lên Hoa Tạng cửa huyền; Tám Nạn Ba Đường, đều vào Tỳ Lô biển tánh).” Hay như trong Tự Sa Môn Huyền Trang Thượng Biểu Ký (寺沙門玄奘上表記), phần Thỉnh Đắc Thiện Lạc Pháp Sư Đẳng Trùng Xuất Gia Biểu (請得善洛法師等重出家表) lại có đoạn: “Phục duy: Hoàng Đế Hoàng Hậu Bệ Hạ, uẩn linh diệu giác, ứng tích thiện quyền, cố năng giám cực chơn như, chuyển Pháp Luân ư Cửu Hữu, bi hoài thứ loại, chửng trầm nạn ư Tam Đồ (伏惟、皇帝皇后陛下、蘊靈妙覺、應跡善權、故能鑒極眞如、轉法輪於九有、悲懷庶類、拯沈難於三塗, Cúi mong: Hoàng Đế, Hoàng Hậu, Bệ Hạ, linh thiêng biết tỏ, ứng tích hiển bày, nên có thể chứng giám chơn như, chuyển Xe Pháp nơi Chín Cõi, xót thương muôn dân, cứu khổ nạn nơi Ba Đường).” Hoặc như trong A Tỳ Đạt Ma Tàng Hiển Tông Luận (阿毘達磨藏顯宗論, Taishō No. 1563) quyển 12 có câu: “Như thị giải thích Thất Thức Trú dĩ, nhân tư phục biện Cửu Hữu Tình Cư (如是解釋七識住已、因茲復辯九有情居, như vậy đã giải thích xong Bảy Thức Trú, nhân đây lại bàn rõ Chín Cõi Cư Trú Của Chúng Hữu Tình).”